Những ngôi chùa nổi tiếng ở Bắc Ninh

Ngày đăng: 28/04/2020 - 7563 - lượt xem

Nhắc đến địa điểm du lịch Bắc Ninh, người ta nghĩ ngay đến miền đất của Phật Giáo, với hàng trăm ngôi đền, chùa lớn nhỏ là điều đặc biệt thu hút hàng ngàn du khách ghé thăm!

Nhắc đến Bắc Ninh, người ta nghĩ ngay đến miền đất của Phật Giáo, với hàng trăm ngôi đền, chùa lớn nhỏ, chưa kể đến những di tích lịch sử, lăng mộ thờ các vị tưởng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Ngoài ra, Bắc Ninh còn miền đất mang đậm nét văn hóa của nền văn minh lúa nước, với những làng nghề làm gốm, tranh… thủ công, với những làng quan họ “vang, dền, nền, nảy”, và với Hội Lim nức tiếng gần xa.

Chùa Phật Tích

Những ngôi chùa nổi tiếng ở Bắc Ninh
Chùa Phật Tích là một ngôi chùa nằm ở sườn phía Nam núi Phật Tích, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Trong chùa có tượng đức Phật bằng đá thời nhà Lý lớn nhất Việt Nam. Theo tài liệu cổ thì chùa Phật Tích được khởi dựng vào năm Long Thụy Thái Bình thứ 4 (1057) với nhiều tòa ngang dãy dọc. Chùa được xây dựng vào thời nhà Lý do Lý Thánh Tông xấy dựng nên.
 
Chùa Bút Tháp

Những ngôi chùa nổi tiếng ở Bắc Ninh
Chùa Bút Tháp nằm ở bên đê hữu ngạn sông Đuống, thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Trong chùa có tượng Bồ tát Quan Thế Âm thiên thủ thiên nhãn bằng gỗ lớn nhất Việt Nam. Theo sách Địa chí Hà Bắc (1982) thì chùa có từ đời vua Trần Thánh Tông (1258-1278). Thiền sư Huyền Quang (đỗ Trạng nguyên năm 1297) đã trụ trì ở đây. Ông cho dựng ngọn tháp đá cao 9 tầng có trang trí hình hoa sen. Ngọn tháp này nay không còn nữa.

Chùa Bút Tháp đã trải qua rất nhiều thời sư trụ trì và được xây dựng trong một khoảng thời gian rất dài mới hoàn thành xong, kèm theo đó là những tích truyện nổi tiếng.

Chùa Dâu

Những ngôi chùa nổi tiếng ở Bắc Ninh
Chùa Dâu là một ngôi chùa nằm ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30 km. Đây là trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo Việt Nam, tuy nhiên cho đến nay, các dấu tích vật chất của chùa đã không còn nữa.
 
Chùa được xây dựng vào buổi đầu Công Nguyên. Các nhà sư Ấn Độ đầu tiên đã từng đến đây. Vào cuối thế kỷ 6, nhà sư Tì-ni-đa-lưu-chi từ Trung Quốc đến chùa này, lập nên một phái Thiền ở Việt Nam. Chùa được khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226, là ngôi chùa lâu đời nhất và gắn liền với lịch sử văn hóa, Phật giáo Việt Nam.

Chùa Dâu gắn liền với sự tích Phật Mẫu Man Nương thờ tại chùa Tổ ở làng Mèn, Mãn Xá cách chùa Dâu 1 km.

Chùa Khúc Toại
Chùa Khúc Toại nằm trong thôn Khúc Toại, Xã Khúc Xuyên, Tp. Bắc Ninh, Bắc Ninh. Trong chùa Khúc Toại ngoài thờ Phật còn thờ ông Nguyễn Thượng Nghiêm làm Hậu Phật. Chùa được xây dựng từ lâu đời nhưng đến thời nhà Nguyễn mới được trùng tu và mở rộng với quy mô lớn.

Dấu tích cổ và có giá trị nhất trong chùa Khúc Toại là quả chuông đồng cổ nhất xứ Kinh Bắc ghi tên chùa với niên đại Phúc Thái 6 năm 1648. Thân chuông khắc chữ Hán bài Tự kể về những danh lam cổ tích như tháp Báo Thiên, chùa Quỳnh Lâm, tháp Phổ Minh, chùa Phả Lại cùng bài Minh ca ngợi quê hương Khúc Toại trù phú.

Hàng năm, tại đây diễn ra hội đình ngày 6 tháng giêng âm lịch, hội chùa diễn ra muộn hơn, vào ngày 14 tháng giêng âm lịch, tập trung những hội quan họ nổi tiếng xứ Kinh Bắc.

Chùa Đại Bi
Chùa Đại Bi nằm trên đỉnh núi Ngoan Sơn, vốn được khởi dựng từ lâu đời, đến thời Lê Trung Hưng được trùng tu và mở rộng với quy mô rất lớn theo kiểu “trăm gian”.

Khi ấy, ngôi chùa ngoài Tam Bảo ra còn có gác chuông, hậu đường, hai bên hành lang, nhà mẫu, nhà tổ, nhà sư, nhà khách. Thực hiện lệnh tiêu thổ kháng chiến chống Pháp, ngôi chùa cổ đó bị phá dỡ. Năm 1990, dân làng dựng tạm mấy gian Tam Bảo có quy mô nhỏ để làm nơi thờ Phật.

Giá trị nổi bật của chùa Đại Bi là 5 thác bản văn bia của chùa đều có niên đại vào thời Lê Trung Hưng có tên và niên đại như sau: Bia có tên “Đại Bi tự” niên đại Chính Hòa 24 (1703). Bia có tên “Hậu Phật bi ký” niên đại Vĩnh Thịnh 3 (1707). Bia tứ diện có tên “Sáng lập thạch bi, Toàn thôn ký kết, Cùng lập giao ước” niên đại Vĩnh Thịnh 4 (1708). Bia có tên “Hậu Phật bi ký” niên đại Cảnh Hưng 16 (1755). Bia có tên “Hậu Phật bi ký, Đồng thôn lệ ký” niên đại Cảnh Hưng 20 (1759).

Chùa Phúc An
Chùa Phúc An nằm ở thôn An Động, xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Cách đây 600 năm đây là một vùng hoang vu, năm 1428 mới có người đến khai lập.

Với tấm lòng tôn kính Phật năm 1599 thời Lê Trung Hưng dân làng đã xây dựng lại ngôi chùa trên nền đất cũ. Năm 1951 do thời gian biến đổi ngôi chùa chỉ còn lại 5 gian nhà Tổ, năm 1993 nhân dân đã xây dựng lại chùa, tại đây các cụ trong làng thay nhau thắp hương thờ Phật

Chùa Phúc Lâm
Chùa Phúc Lâm thuộc địa phận xã Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam, là một ngôi chùa cổ được xây dựng vào đầu thế kỷ 18, hoa văn kiến trúc thời Nguyễn.

Chùa gồm 7 gian 2 dĩ, các cột được làm bằng gỗ lim rất vững chắc. Các đầu đao của chùa được chạm trổ tinh xảo hình tứ linh, tứ qúy... Bên trong còn lưu giữ nhiều cổ vật qúy như tượng tam thế, bia đá, đôi nghê đá...

Trong khuôn viên chùa còn vườn tháp, cây đa cổ thụ, cổng tam quan. Trong vườn chùa còn có giếng rất đẹp. Trước chùa còn có Ngôi Đền hàng nghìn năm tuổi,chùa được trùng tu năm 2009,nhưng vẫn giữ được nét cổ xưa.

Đền Bà Chúa Kho
Đền Bà Chúa Kho nằm trên lưng chừng ngọn núi Kho, tại khu Cổ Mễ, Phường Vũ Ninh, TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Đây không chỉ là khu di tích lịch sử có giá trị nằm trong quần thể di tích của khu Cô Mễ (gồm: Đình - Chùa - Đền) mà còn là nơi hàng năm nhân dân khắp cả nước hành hương mang tính tín ngưỡng.

Ngôi đền có liên quan đến sự kiện Lý Thường Kiệt lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Tống năm 1076. Vào thời đó ở làng Cổ Mễ, núi Kho, Cầu Gạo... vốn là những nơi đặt kho lương thực của quân Lý ở bờ nam chiến tuyến Như Nguyệt (Sông Cầu). Núi Kho, núi Dinh, Thị Cầu cũng vốn là một vị trí chiến lược có thể kiểm soát con đường từ Lạng Sơn qua sông Cầu về Thăng Long xưa.

Đền Cổ Mễ thờ Bà Chúa Kho chính là nơi tưởng niệm một người phụ nữ Việt Nam đã khéo tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực, trông nom kho tàng quốc gia trong thời kỳ trước và sau chiến thắng Như Nguyệt.

Vào đời nhà Lý, Bà có công giúp triều đình trông coi kho lương thực tại Núi Kho (tỉnh Bắc Ninh) và đã "thác" trong cuộc kháng chiến chống quân Tống vào ngày 12 tháng giêng năm Đinh Tỵ (1077).

Nhà vua thương tiếc phong cho Bà là Phúc Thần. Người dân nhớ thương Bà lập nên đền thờ tại kho lương thực cũ của triều đình ở Núi Kho và gọi Bà với một niềm tôn kính là: Bà Chúa Kho.

Đền Đô
Đền Đô nằm ở Đền Đô nằm ở làng Đình Bảng, xã Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, là một quần thể kiến trúc tín ngưỡng thờ tám vị vua đầu tiên của nhà Lý

Đền Đô được khởi công xây dựng từ ngày 3 tháng Ba năm Canh Ngọ 1030 bởi Lý Thái Tông khi vị hoàng đế này về quê làm giỗ cha. Sau này, đền được nhiều lần trung tu và mở rộng. Lần trùng tu lớn nhất là vào năm thứ hai niên hiệu Hoàng Định của vua Lê Kính Tông (tức năm 1602), khắc văn bia ghi lại công đức của các vị vua triều Lý.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quân Pháp đã phá hủy nhiều di sản văn hóa ở Cổ Pháp. Năm 1952, quân Pháp dội bom, phá hủy hoàn toàn đền. Đến năm 1989, đền đã được khởi công xây dựng lại.

Đền thờ Đô thống Lê Phụng Hiểu

Đền thờ Đô Thống Lê Phụng Hiểu thuộc khu Hòa Đình, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, vốn được khởi dựng từ lâu đời, nhưng được trùng tu tôn tạo vào những năm gần đây

Đền còn bảo lưu được nhiều tài liệu cổ vật quý giá phản ánh về người được thờ, đặc biệt là hai bia đá có tên “Phả lục tam vị thánh” niên đại Thành Thái 13 (1901) và bia có tên “Sự tích bi ký” niên đại Tự Đức 33 (1880), nội dung ghi chép về người được thờ là Đô Thống Lê Phụng Hiểu và hai danh triều Lý.

Chùa Dạm

Chùa Dạm, hay chùa Rạm thuộc xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, là đại danh lam từ thời Lý và là một di tích quan trọng của tỉnh Bắc Ninh ngày nay với lịch sử gần 1.000 năm.

Theo thư tịch, sử sách như Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, Lịch triều hiến chương loại chí thì vào năm Quảng Hựu thứ nhất (1085), Nguyên phi nhà Lý Ỷ Lan khi dạo chơi Đại Lãm Sơn có ý định xây chùa.

Năm 1086, triều đình nhà Lý ra lệnh xây dựng chùa. Năm sau, 1087, vua Lý Nhân Tông đến thăm ngôi chùa đang xây, mở tiệc, làm thơ "Lãm Sơn dạ yến". Sau mười năm xây dựng, năm 1097 chùa Dạm mới hoàn thành, được vua ban tên chùa là Cảnh Long Đồng Khánh, ban 300 mẫu ruộng tự điền (ruộng thuộc nhà chùa) để chùa có hoa lợi hương khói và bảy gia đình ở mé dưới núi được giao việc chuyên đóng - mở cửa chùa. Năm 1105, lại xây ba tháp đá ở chùa Lãm Sơn.

Trong thời gian dài sau đó chùa luôn được sự chiếu cố đặc biệt của triều đình, nên chùa càng được gia công mở mang quy mô. Vua Trần Nhân Tông từng đến thăm, ca ngợi thành thơ về bức tranh kiến trúc kế tiếp mười hai lớp này.

Các bài viết cùng chuyên mục

Hậu Lâu - Thăng Long Hà Nội

Hậu Lâu có kiểu kiến trúc giao thoa giữa kiến trúc phương Đông và phương Tây.

Hậu Lâu được xây ở phía bắc hành cung với mục đích trấn giữ, tạo sự yên bình (theo phong thuỷ) nên còn được gọi là Lầu Tĩnh Bắc hay Hậu Lâu (lầu phía sau).

Thắng cảnh Hương Sơn

Khu danh thắng Hương Sơn thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội

Khu danh thắng Hương Sơn thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Đặc điểm: Nơi đây phong cảnh hữu tình, có "Nam Thiên đệ nhất động" (động đẹp nhất trời Nam)

Quảng trường Ba Đình

Quảng trường Ba Đình là nơi diễn ra những sự kiện trọng đại của cả nước.

Quảng trường Ba Đình là nơi diễn ra những sự kiện trọng đại của cả nước.

Bài viết liên quan

    0964353355
    Zalo ChatZalo Chat
    Facebook MessengerFacebook Messenger
    Youtube
    Gửi Email
    {"nalias":"nhung-ngoi-chua-noi-tieng-o-bac-ninh","lang":"2","cattype":"0","catid":"31","catroot":"12","link":"1","UrlEngine":"UrlNewsEngine","site":"1"}